Back Thông tin Án lệ tranh chấp hợp đồng Đứng tên dùm ký hợp đồng mua nhà đất

Đứng tên dùm ký hợp đồng mua nhà đất

  • PDF.
9

Anh Khanh đứng tên mua và kê khai và được UBND huyện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với hai thửa đất có diện tích 10.800 m2 và 856 m2. Tuy nhiên qua xác minh, Tòa án đã xác định bà Xem (Việt kiều) là người thực sự muốn mua và đã thông qua anh Khanh để mua hai thửa đất này.

HĐTP đã nhận định bà Xem đang định cư ở nước ngoài và không đầu tư kinh doanh vào Việt Nam nên theo quy định của pháp luật thì bà Xem không thuộc đối tượng được sở hữu bất động sản tại Việt Nam. Trên cơ sở này, HĐTP định hướng xét xử là phải định giá hai thửa đất; nếu anh Khanh có nhu cầu sử dụng thì giao cho anh Khanh sử dụng, đồng thời buộc thanh toán cho bà Xem đúng bằng số tiền mà bà đã gửi về để mua đất. Nếu giá định giá cao hơn số tiền mà bà Xem đã gửi về để mua thì bà Xem được hưởng ½ số tiền chênh lệch, anh Khanh được hưởng ½ số tiền chênh lệch. Nếu giá định giá thấp hơn số tiền mà bà Xem đã gửi về để mua thì chỉ phải trả cho bà Xem giá trị theo giá định giá.

Tóm tắt bản ản số 23 (Bản án số 06/2009/DS-ST ngày 05/10//2009 của TAND tỉnh Đồng Tháp):

Vào khoảng thời gian từ năm 1994 đến 1996, ông Rock Paul có gửi về cho bà Hạnh nhận nhiều lần tiền để bà Hạnh, bà Hương, ông Pháp mua đất, cất nhà tại số 20/3A, quốc lộ 80. Do ông Paul là người nước ngoài nên không thể đứng tên quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà được nên nhờ bà Hạnh, bà Hương, ông Pháp đứng tên dùm ông. Khi xảy ra tranh chấp, TAND tỉnh Đồng Tháp đã quyết định định giá nhà đất tại 20/3A, quốc lộ 80; giao cho bà Hạnh, bà Hương và ông Pháp tiếp tục là đồng sở hữu chung đối với nhà đất này; đồng thời bà Hạnh, bà Hương và ông Pháp liên đới trả lại cho ông Paul số tiền ông Paul đã gửi về để mua đất, cất nhà và trả cho ông Paul ½ giá trị chênh lệch giữa số tiền định giá nhà và số tiền ông Paul đã gửi về để mua đất, cất nhà.

Ý nghĩa bản án:

Trong trường hợp đứng tên mua giùm bất động sản cho người không có quyền sở hữu bất động sản tại Việt Nam thì nếu người đã đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản có nhu cầu sở hữu bất động sản đó thì công nhận cho họ được sở hữu bất động sản đó. Khi đó sẽ định giá bất động sản. Nếu giá định giá (Gđg) cao hơn số tiền mà người nhờ mua đã chuyển về cho người đã đứng tên (Tcv) thì người đã đứng tên phải hoàn trả cho người nhờ mua số tiền Tcv và ½ khoản tiền chênh lệch giữa Gđg và Tcv. Nếu Gđg thấp hơn Tcv thì người đã đứng tên chỉ phải hoàn trả cho người nhờ mua một khoản tiền đúng bằng Gđg[1].

Trong trường hợp người đã đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng bất động sản không có nhu cầu sở hữu bất động sản thì sẽ tiến hành phát mãi bất động sản. Hiện tại pháp luật hiện hành hay án lệ không có quy định cụ thể về vấn đề này nhưng theo tác giả thì phương hướng xử lý cũng tương tự như trên. Theo đó, nếu số tiền thu được từ phát mại (Tpm) lớn hơn Tcv thì người nhờ mua được nhận Tcv và ½ tiền chênh lệnh giữa Tpm và Tcv; người đứng tên được hưởng ½ tiền chênh lệch giữa Tpm và Tcv. Nếu Tpm nhỏ hơn Tcv thì người nhờ mua chỉ nhận được đúng số tiền Tpm.



[1] Nhận xét của người tổng hợp (NTH): Theo phương hướng này thì hợp đồng chuyển nhượng bất động sản không bị tuyên vô hiệu. Cách xử lý trong bản án này có khác biệt so với cách xử lý trong bản án số 18. Vụ việc trong bản án số 18 cũng là một dạng đứng tên giùm mua bất động sản nhưng người nhờ mua có quyền sở hữu bất động sản và Tòa án đã xác định hợp đồng mua bán bất động sản là giả tạo, bị tuyên vô hiệu; đồng thời Tòa án công nhận việc mua bán giữa bên bán và bên nhờ mua.

Tác giả: Đỗ Văn Đại

Bạn muốn tìm hiểu thêm các vấn đề liên quan. Hãy tham khảo các bài viết khác tại website chúng tôi hoặc gọi Tổng đài 1900 6279 để được Luật sư tư vấn trực tiếp.